A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Biện pháp dạy chính tả lớp 4

Biện pháp 1: Luyện phát âm.

Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải phát âm chuẩn, cần luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh điệu, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm “phát âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy”.

Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn… mà được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học; trọng tâm trong phân môn chính tả, tôi thường luyện viết sau đó luyện phát âm những chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn lộn (tiếng mang vần khó, tiếng có âm, vần dễ viết sai do ảnh hưởng của phương ngữ hay thói quen).

Đối với những học sinh còn yếu về mặt phát âm, tôi thường nhắc nhở các em chú ý nghe đọc để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng được.

Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh tiếng, từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả.

Biện pháp 2 Phân tích, so sánh.

Với những tiếng khó, tôi đã áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh điểm khác nhau để các em ghi nhớ.

Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này.

          So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng” tên của một loại rau (rau muống), tiếng “muốn” có âm cuối là “n” thường ghép sau một tiếng tạo nên từ trong câu văn có nghĩa. Ví dụ: mong muốn…, ước muốn… Giúp    học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai.

 Biện pháp 3:  Giải nghĩa từ.

Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn… và cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng.

Có nhiều cách để giải nghĩa từ: Có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,…

Ví dụ: Phân biệt mắt và mắc

+ Giải nghĩa từ mắt: Cho học sinh quan sát hình ảnh đôi mắt (cơ quan để nhìn).

+ Giải nghĩa từ mắc: Có thể cho học sinh đặt câu với từ mắc (mắc lỗi).

       Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ.

 Biện pháp 4:  Ghi nhớ mẹo luật chính tả.

– Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê. Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:

Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch. Như: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ,… chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu…

 Biện pháp 4:  Ghi nhớ mẹo luật chính tả.

– Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê. Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:

Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch. Như: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ,… chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu…

Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: Sả, sung, sắn, sim, su su, sầu riêng, sáo, sâu,…

+ Luật bổng – trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh của 2 yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ được 2 nhóm này, tôi đã dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ:                                

Em Huyền mang nặng, ngã đau

Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào.

Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).

*Biện pháp 5: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập .

          Khi tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập, tôi lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp với từng đối tượng học sinh và phù hợp với từng nội dung bài tập nhằm tạo hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học.

          Trong quá trình học sinh làm bài tập, tôi thường tổ chức các em thảo luận nhóm làm bài dưới sự hướng dẫn của giáo viên để giúp học sinh tự tìm ra kiến thức bài tập. Đối với các dạng bài tập khó, thì tổ chức cho học sinh luyện tập dưới hình thức trò chơi hoặc thảo luận nhóm, hiệu quả việc sửa chữa lỗi sẽ tốt hơn.

          Ngoài ra có thể đưa thêm các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, tôi đã rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ.

      + Bài tập trắc nghiệm:

   * Khoanh tròn vào chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả:

  1.    lũ lục                                                    b. lũ lụt
  2.    dang sơn                                            d. giang sơn
  3.    xích lô                                                g. sích lô

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Tháng 05 : 93

 

TRƯỜNG TIỂU HỌC AN HÒA THỊNH
Địa  chỉ: Thôn Trung Mỹ, xã An Hòa Thịnh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Email: tieuhocanhoathinh@gmail.com. ĐT liên hệ: 0904 059 607.